Hội nghị Khoa học Thường niên lần thứ 10
Hội nghị Khoa học Thường niên lần thứ 10
Rate this post

Ngày 8/11/2014, Hội nghị Khoa học Thường niên lần thứ 10 do Hội nội tiết Sinh sản và Vô sinh Thành phố Hồ Chí Minh (HOSREM) kết hợp với Hội Sản khoa và sinh đẻ có kế họach Việt Nam (VINAGOFPA) tổ chức. Đây là một hoạt động khoa học được tổ chức hàng năm, nhằm tạo cơ hội gặp gỡ, trao đổi, học hỏi giữa các nhân viên y tế cũng như để tổng kết hoạt động hàng năm của Hội.

Hội nghị Khoa học Thường niên lần thứ 10

GS TS BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng đã mở đầu Hội nghị bằng một tin vui, đem lại nhiều hứng khởi và hy vọng cho chuyên ngành hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam: 9 trường hợp ghép tử cung thành công trên thế giới, trong đó 3 phụ nữ có thai sau ghép tử cung và 1 trong số 3 phụ nữ đó đã sinh con khỏe mạnh. Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu thêm cũng như một quãng đường dài cho đến lúc có thể thực hiện ghép tử cung tại Việt Nam, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể trông chờ một tương lai đầy hy vọng cho sự phát triển chuyên ngành YHSS nước ta trong thời gian tới. TS Lưu Thị Hồng – Vụ trưởng Vụ Sức khỏe Bà Mẹ Trẻ Em cũng rất phấn khởi về sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của Hội trong 10 năm qua, đồng thời cũng cam kết sẽ đồng hành với Hội trong quá trình phát triển tiếp theo để bảo đảm các kĩ thuật, phương pháp điều trị mới có thể đến với bệnh nhân một cách an toàn và hiệu quả nhất.

Hội nghị thường niên lần thứ 10 thật sự là một ngày hội của những vấn đề mới, cập nhật và nhận được nhiều quan tâm trong chuyên ngành Sản phu khoa và Hỗ trợ sinh sản.

Sản khoa được xem là một ngành đem lại niềm vui, tuy nhiên bác sĩ Sản khoa cũng luôn phải đối mặt với những tai biến bất ngờ. Cụ thể, với đề tài Cấp cứu Nội trong Sản khoa, GS TS BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng đã trình bày về bệnh lý cơ tim chu sinh. Đây là một bệnh lý hiếm gặp nhưng xảy ra bất ngờ với tỷ lệ tử vong cao, gây suy tim đột ngột trong giai đoạn chu sinh ở một phụ nữ trước đây hoàn toàn khỏe mạnh.

Bên cạnh đó, băng huyết sau sinh cũng là một tai biến Sản khoa đáng lo ngại, cần được nhận định nhanh, chính xác và xử trí kịp thời. Bài báo cáo về Thống nhất quan điểm xử trí Nội khoa Băng huyết sau sinh củaThS BS Lê Quang Thanh đã cung cấp những thông tin khá đầy đủ, súc tích về xử trí Nội khoa BHSS cũng như vấn đề lựa chọn thuốc gò tử cung. Những thông tin này được tổng hợp và so sánh từ hướng dẫn lâm sàng của các tổ chức y tế lớn trên thế giới. Đây thật sự là một tiền đề cho quá trình đưa ra đồng thuận cũng như hướng dẫn lâm sàng về xử trị Nội khoa BHSS cho cộng đồng Việt Nam sau này.

Cũng với chủ đề BHSS, ThS BS Tạ Thị Thanh Thủy cũng đã có bài trình bày về Bệnh lý nhau gây băng huyết muộn sau sinh và sau sẩy thai, trong đó đặc biệt mô tả 2 bệnh lý tuy hiếm gặp nhưng nguy hiểm đến tính mạng nếu không can thiệp kịp thời: bệnh lý polyp nhau và bất thường động tĩnh mạch. Phương tiện chẩn đoán thường được sử dụng, không xâm lấn và cho giá trị đáng tin cậy trong cả hai bệnh cảnh này là siêu âm Doppler. Điều quan trọng được nhấn mạnh ở đây là bất thường động tĩnh mạch chống chỉ định với nong nạo buồng tử cung. Do đó trên thực tế lâm sàng, nếu có sự hiện diện của các mạch máu tân sinh trong lớp cơ hoặc những chỗ thông nối động tĩnh mạch trên siêu âm Doppler hoặc chụp động mạch cản quang thì không nên tiến hành nong nạo buồng tử cung, mà nên sử dụng các phương pháp điều trị giảm lượng mạch máu nuôi khối u trước khi tiến hành phẫu thuật.

Một đề tài cũng đang rất được quan tâm trong Sản khoa là “Dự phòng sinh non và vai trò của progesterone” do TS BS Nguyễn Xuân Hợi trình bày. Trong đó, TS BS Nguyễn Xuân Hợi đã tổng hợp những dữ liệu cập nhật nhất hiện nay về vai trò của progesterone trong dự phòng sinh non. Cụ thể, theo Reports of Major Impact của Romero và cs., progesterone đặt âm đạo giúp giảm đáng kể tỉ lệ sinh non < 33 tuần, < 35 tuần và < 28 tuần ở thai kì đơn thai. Bên cạnh đó, một nghiên cứu của Conde Agudelo A và cs cho thấy hiệu quả dự phòng sinh non của progesterone và khâu vòng là tương đương. TS BS Nguyễn Xuân Hợi cũng trình bày một số điểm chính về liều lượng, đường dùng của progesterone theo các Hướng dẫn lâm sàng trong các trường hợp cụ thể. Đây là những dữ liệu cần thiết để có thể phát triển Đồng thuận về dự phòng sinh non của Việt Nam về sau.

Về lĩnh vực phụ khoa, Hội nghị đề cập đến những bệnh lý thường gặp và những vấn đề mang tính thực tiễn cao. Một trong những vấn đề đó là hội chứng cường androgen. Đây là một tình trạng gây nên nhiều triệu chứng như mụn trứng cá, da mặt nhờn, tóc nhờn, rậm lông, thừa cân, hói đầu, … trong đó thường gặp nhất ở phụ nữ châu Á là mụn trứng cá ở nhiều mức độ khác nhau, góp phần gây giảm đáng kể chất lượng cuộc sống. Với bài trình bày về “Điều trị Hội chứng cường androgen bằng thuốc viên nội tiết kết hợp”, GS TS BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng một lần nữa nhắc lại những rối loạn nội tiết trong hội chứng cường androgen, cũng như vai trò, cơ chế của thuốc viên nội tiết ngừa thai trong điều trị. Trong đó, một loại thuốc viên ngừa thai chứa ethinyl estradiol kết hợp cyproterone acetate được nhiều dữ liệu chứng minh hoạt tính kháng androgen cao, giúp giảm tiết bã nhờn và cải thiện tình trạng mụn trứng cá đáng kể sau 6 tháng điều trị.

Bên cạnh hội chứng cường androgen, một bệnh cảnh thường gặp khác trong phụ khoa là đau bụng dưới mạn tính. Với một góc nhìn khác trong quá trình tiếp cận, ThS BS Nguyễn Hoài Thu -với bài báo cáo “Cập nhật chẩn đoán hình ảnh học đau vùng bụng dưới mạn tính ở phụ nữ do bệnh lý tĩnh mạch”- đã đề cập đến một nguyên nhân thường bị bỏ sót ở bệnh nhân đau vùng bụng dưới: bệnh lý tĩnh mạch vùng chậu. Kết quả tầm soát tại Medic bằng siêu âm Doppler màu trong vòng 1 năm trên 200 bệnh như nữ có đau vùng bụng dưới nhận thấy nguyên nhân do tĩnh mạch chiếm đến 16%. Đây là một nguyên nhân thường bị bỏ sót và có thể không tìm được triệu chứng khi khám và siêu âm ở tư thế nằm, nhưng có thể phát hiện rất rõ ràng bằng siêu âm Doppler màu ở tư thế đứng. Do vậy, sau khi đã loại trừ hết các nguyên nhân khác, bác sĩ cần nghĩ đến nguyên nhân do bệnh lý tĩnh mạch và gởi bệnh nhân siêu âm mạch máu vùng chậu ở tư thế đứng. Can thiệp bao gồm chích xơ, sử dụng laser và máy đốt cao tần trên những tĩnh mạch giãn.

Không những thảo luận về những vấn đề chuyên môn mang tính “thời sự”, Hội nghị thường niên còn cho thấy sự quan tâm của Hội đến vấn đề nâng cao công tác quản lý, cũng như tiên phong với những ứng dụng mới trong điều trị.

Với tất cả nhiệt huyết dành cho một lĩnh vực khá mới mẻ, ThS BS Phan Thị Ngọc Linh trình bày về “Quản lý sự cố- rủi ro tại các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế”. Đây là ngành phát triển muộn nhất trên thế giới nhưng tốc độ phát triển rất nhanh, đi trước cả ngành quản lý chất lượng. Đồng thời, đây là một công cụ cực kì quan trọng, giúp ngăn ngừa rủi ro cũng như có thể có đầy đủ dữ liệu để đánh giá, ngăn ngừa sự cố tốt hơn trong môi trường y tế- một môi trường được xem là có nguy cơ cao xảy ra rủi ro và che giấu sai sót. Bài trình bày của BS Linh được các đại biểu đánh giá cao, rất hữu ích để đưa đến những hành động thực tiễn giúp ngăn ngừa sự cố, bảo đảm tính an toàn và hiệu quả trong khám và điều trị.

Với đề tài “Sàng lọc trước sinh không xấm lấn trên thế giới” , TS Luyện Quốc Hải, thuộc trung tâm Bionet trình bày về kĩ thuật NIPT (non invasive prenatal testing)- một cuộc cách mạng trong lĩnh vực sàng lọc trước sinh. Phương pháp này sử dụng các vật liệu di truyền của thai nhi từ máu người mẹ trong quá trình mang thai. Ra đời từ năm 2011, đến nay NIPT đã có bước tiến rất dài, càng ngày càng tiếp cận đến chẩn đoán. Với những ưu điểm nổi trội so với các phương pháp sàng lọc cổ điển như độ chính xác cao, có thể thưc hiện xét nghiệm được từ giai đoạn rất sớm của thai kì (tuần thứ 9) và không mang lại rủi ro và nguy cơ cho những thai phụ được xét nghiệm, NIPT đem lại rất nhiều hứa hẹn cho lĩnh vực sàng lọc trước sinh.

Cuối cùng, với bài trình bày “Mang thai hộ- những điều cần biết”, ThS BS Hồ Mạnh Tường đã đưa ra một cái nhìn khá toàn diện về một phương pháp mới trong ngành hỗ trợ sinh sản sắp được ứng dụng tại Việt Nam. Trong đó, không chỉ đề cập đến vấn đề pháp lý, ThS BS Hồ Mạnh Tường còn đưa ra những vấn đề về tâm lý cần tư vấn và hỗ trợ bệnh nhân, cũng như các vấn đề mà một cơ sở y tế phải đối mặt khi ứng dụng phương pháp điều trị này.

Với Hội nghị thường niên, không thể không nhắc đến giải thưởng Thành Tựu- một giải thưởng do HOSREM kết hợp với VINAGOFA và HOGA đồng tổ chức. Giải thưởng Thành tựu ngày càng tăng uy tín, trở nên một sân chơi hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiên cứu trẻ. Giải nhất Giải thưởng Thành tựu năm nay thuộc về đề tài Sử dụng môi trường nuôi cấy có bổ sung GM-CSF trong thụ tinh trong ống nghiệm của ThS BS Đặng Quang Vinh và cs.

Bên cạnh đó, Hội nghị thường niên cũng là dịp để tổng kết lại hoạt động của Hội trong năm vừa qua, một dịp để nhìn lại những bước tiến đáng phấn khởi của Hội: gia tăng số Hội viên và các hoạt động, mở rộng hợp tác, tổ chức các Hội nghị quốc tế, cùng với hoạt động biên soạn hướng dẫn lâm sàng. Một trong các hướng dẫn lâm sàng mà Hội sẽ tiến hành biên soạn tiếp theo là Đồng thuận lạc nội mạc tử cung. Mục tiêu của Hội nhằm cung cấp một hướng dẫn thực hành lâm sàng cho cộng đồng Việt Nam có khả năng ứng dụng cao, cập nhật và dựa trên Y học chứng cứ. Tại Hội nghị, BS Âu Nhựt Luân thay mặt cho Hội trình bày về bản phác thảo cuối của Đồng thuận LNMTC, một bản phác thảo được biên soạn rất công phu và chi tiết, hứa hẹn rất nhiều bước tiến mới trong thực hành lâm sàng và nghiên cứu khoa học của cộng đồng Việt Nam về bệnh lý Lạc Nội mạc tử cung nói riêng và về Sản phụ khoa, Hỗ trợ sinh sản nói chung sau này.

Với hơn 700 đại biểu tham dự, 17 đề tài hội trường và 17 báo cáo poster mang tính khoa học cao, cùng với các báo cáo viên tâm huyết và những thảo luận sôi nổi, Hội nghị Khoa học thường niên lần thứ 10 của HOSREM thật sự là một mốc son trong quá trình phát triển mạnh mẽ của Hội.
Hội nghị thường niên được tài trợ bởi các công ty Merck Serono, Ferring, Hướng Việt, Bayer và Pfizer.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here