Xét nghiệm sinh học lâm sàng  giúp ích cho người thầy thuốc trong chẩn đoán, điều trị và theo dõi tiến triển của bệnh. Nhận định được kết quả của một số xét nghiệm hóa sinh thường gặp sẽ giúp rất nhiều trong việc phát hiện bệnh, sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, phát hiện những tác dụng không mong muốn trong quá trình điều trị bệnh

Xét nghiệm hóa sinh

Creatinin huyết thanh

Mức bình thường creatinin huyết thanh là 0,6-1,2 mg/dl

Creatinin là sản phẩm thoái hóa của phosphocreatin, một chất dự trữ năng lượng quan trọng có trong cơ thể. Sự tạo thành creatinin tương đối hằng định, phụ thuộc vào khối lượng cơ thể của mỗi người,do vậy ở nữ giới, creatinin máu hơi thấp hơn nam giới. Hàm lượng creatinin trong huyết thanh ít thay đổi, không phụ thuộc vào yếu tố ngoại lai, ví dụ chế độ ăn. Creatinin đào thải ra ngoài nước tiểu chủ yếu do cầu thận; phần bài tiết bởi ống thận hoặc tái hấp thu rất ít, coi như không đáng kể

Creatinin huyết thanh được coi là một chỉ số về thận tốt hơn so với ure huyết. Khi chức năng lọc của cầu thận giảm, nồng độ creatinin trong máu tăng. Được coi là suy thận khi creatinin huyết thanh lớn hơn 1,5mg/dl

Hệ số thanh thải creatinin (clearance)

Mức bình thường: ở nam: 75-125 ml/ph hoặc 1,24-2,08 ml/s

ở nữ: 85-90% của nam

Hệ số thanh thải của một chất nào đó (creatinin, thuốc) là thể tích huyết tương mà thận có khả năng lọc sạch chất đó trong 1 phút. Nói cách khác, đó là tỷ số giữa lượng chất đó có trong nước tiểu đào thải ra trong một phút chia cho nồng độ chất đó trong huyết tương.

Trong thực tế, người ta coi là suy thận khi hệ số thanh thải creatinin dưới 80ml/ph. Suy thận nhẹ khi hệ số thanh thải creatinin dưới 50ml/ph, là trung bình khi trị số từ 15-50ml/ph và là nặng với trị số thấp dưới 15ml/ph

Ure

Mức ure trung bình trong máu là 20-40mg/dl

Nếu biểu thị dưới dạng nito ure huyết thì trị số thường là 8-18mg/dL

Ure là sản phẩm thoái hóa chính của protein, được tạo thành ở gan và đào thải chủ yếu qua nước tiểu

Giảm ure máu rất hiếm, thường gặp ở giai đoạn cuối của thiểu năng gan do suy giảm tổng hợp ure

ure huyết cao (>50mg/dL) có thể do nguyên nhân trước thận, sau thận hoặc tại thận. Nguyên nhân trước thận như mất nước, nôn mửa, ỉa chảy, giảm lưu lượng máu, suy tim. Nguyên nhân sau thận, như tắc đường tiết niệu (sỏi). Nguyên nhân tại thận như viêm cầu thận cấp hoặc mạn, viêm ống thận cấp do nhiễm độc.

Hệ số thanh thải ure bình thường khoảng 75mg/ph vì sau khi lọc qua thận một phần ure được ống thận tái hấp thu. Ở người suy thận, hệ số này giảm.

Glucose

Mức glucose bình thường trong máu lúc đói 70-110 mg/dl

Glucose là nguồn năng lượng chủ yếu của não, cơ. Glucose huyết luôn hằng định do cơ chế điều hòa thần kinh – nội tiết. Nồng độ glucose lúc đói cao hơn 140 mg/dL được coi là bệnh lý. Đường huyết cao tới 290-310 m/dL có nguy cơ gây hôn mê đái tháo đường. Tuy nhiên không thể nêu lên một giới hạn cụ thể vì trị số này thay đổi khá nhiều với từng ca bệnh

Hạ đường huyết dưới 45mg/dL cũng rất nguy hiểm

Acid uric

Mức acid uric bình thường trong máu là 2-7 mg/dL

Acid uric là sản phẩm thoái hóa cuối cùng của nhân purin và được đào thải chủ yếu qua đường nước tiểu. Tăng acid uric máu có thể do tăng sản xuất, hoặc do đào thải kém. Huyết thanh bình thường bão hòa acid uric (ở 7mg/dL), nếu vượt quá ngưỡng này thì natri urat tinh thể có thể lắng đọng trong sụn, khớp, thận. Đó là biểu hiện của bệnh gout.

Các tác nhân làm giảm bài tiết acid uric ở ống thận cũng làm tăng acid uric huyết (thuốc lợi tiểu isoniazid, furosemid, acid ethacrinic)

(Còn tiếp)

Leave a Comment